024 6654 6682

Làm sao để có đôi mắt khỏe mạnh ?

Kiến thức về bệnh mắt

1. Cận thị

Cận thị là một tật khúc xạ gây rối loạn chức năng thị giác, do nhãn cầu bị dài ra, tia sáng hội tụ ở trước võng mạc thay vì phải hội tụ tại đúng võng mạc, điều này khiến cho người bị cận thị chỉ có thể nhìn được những vật ở gần mà không nhìn rõ những vật ở xa.

Nguyên nhân

  • Do yếu tố di truyền: nếu trong gia đình có bố hoặc mẹ bị cận thị từ 6 điop trở lên, khả năng trẻ bị cận thị di truyền là 100%.
  • Do trẻ bị sinh non hoặc trẻ sinh ra có cân nặng thấp
  • Trẻ thường bị thiếu ngủ hoặc ngủ ít
  • Trẻ ngồi học không đúng tư thế hoặc có thói quen đọc sách với khoảng cách gần hay ở nơi không đủ ánh sáng có nguy cơ bị cận thị cao hơn so với các trẻ khác.
  • Trẻ xem tivi nhiều và ngồi gần tivi với khoảng cách dưới 3m.

Triệu chứng

  • Trẻ có các biểu hiện thường xuyên nheo mắt, dụi mắt, mỏi mắt, chói mắt, dễ nhạy cảm với ánh sáng do khả năng điều tiết của mắt kém.
  • Không thể nhìn rõ những vật ở khoảng cách trên 1m như thường đứng gần để xem tivi…
  • Trẻ đọc sách với khoảng cách gần, cúi thấp gần với mặt bàn khi viết bài, khó đọc hoặc đọc nhầm do không nhìn rõ chữ.
  • Trẻ thường bị nhức đầu, chảy nước mắt do mỏi mắt.

2.Thoái hóa điểm vàng

Thoái hóa điểm vàng (còn gọi là thoái hóa hoàng điểm – AMD) vốn được mệnh danh là căn bệnh của tuổi già bởi nó thường gặp ở những người trên 60, làm ảnh hưởng xấu đến thị lực và có thể dẫn tới mù lòa.

Nguyên nhân

Thoái hóa điểm vàng là do tổn thương các mạch máu nuôi dưỡng điểm vàng. Tùy thuộc vào cách mà mạch máu bị tổn thương, thoái hóa điểm vàng được chia thành 2 dạng:

+ Thoái hóa điểm vàng dạng khô

Xảy ra khi các mạch máu bên dưới điểm vàng trở nên mỏng và giòn. Các tế bào nhạy cảm với ánh sáng trong điểm vàng bị thoái hóa và teo đi làm mờ thị giác trung tâm của mắt.

+ Thoái hóa điểm vàng dạng ướt

Xảy ra ở khoảng 10% số bệnh nhân bị thoái hóa điểm vàng. Các mạch máu nhỏ tăng sinh bất thường trong mắt dễ vỡ gây rò rỉ máu và chất dịch lỏng bên trong võng mạc. Đây được xem là dạng tổn thương nghiêm trọng và phần lớn những trường hợp mắc bệnh sẽ có nguy cơ cao bị mất thị lực vĩnh viễn (mù lòa).

MUA SẢN PHẨM TRỊ BỆNH NGAY !!!

(Nếu gặp phải một trong các biểu hiện trên)

Triệu chứng

Ở giai đoạn đầu, hầu như bệnh nhân không thấy có bất kỳ triệu chứng gì cả. Họ chỉ có thể nhận ra mình mắc thoái hóa điểm vàng khi bệnh đã trở nặng hơn.

+ Thoái hóa điểm vàng dạng khô

Với triệu chứng phổ biến nhất là nhìn mờ. Khi đó, khu vực trung tâm của những gì bạn nhìn thấy sẽ trở nên méo mó, mờ ảo và bị mù màu sắc. Bạn sẽ gặp khó khăn khi muốn đọc bản in hoặc các muốn nhìn chi tiết một vật nào đó.

Khi những triệu chứng trở lên nặng nề hơn, bạn sẽ thấy sự thay đổi rõ rệt: Cần nhiều ánh sáng hơn để làm việc. Điểm mờ ở khu vực trung tâm của những gì bạn nhìn thấy sẽ to dần ra và sẫm màu hơn. Khi bệnh đến giai đoạn nặng, bạn thậm chí không nhìn thấy khuôn mặt của người đối diện

+ Thoái hóa điểm vàng dạng ướt

Nếu bạn nhìn thấy một đường thẳng như cạnh tủ, một cạch bàn… nhưng lại thấy nó méo mó hoặc lượn sóng, bạn đã mắc bệnh thoái hóa điểm vàng dạng ướt.

Với cả hai loại thoái hóa điểm vàng, mất thị lực trung tâm có thể xảy đến một cách nhanh chóng.

3. Quáng gà

Quáng gà là cách gọi dân gian của bệnh thoái hóa sắc tố võng mạc. Thực tế thoái hóa sắc tố võng mạc không phải là một bệnh mà là một nhóm các bệnh có tính di truyền được biểu hiện bằng triệu chứng nhìn kém trong điều kiện ánh sáng yếu. Vùng nhìn của người bệnh thu hẹp dần và xuất hiện các đám sắc tố hình tế bào xương ở võng mạc khi thăm khám đáy mắt.

Triệu chứng

Triệu chứng sớm nhất người bệnh dễ nhận ra là nhìn kém trong môi trường thiếu ánh sáng. Thị lực của người bệnh trong điều kiện ánh sáng đầy đủ cũng có khi giảm sút.

Khi thăm khám bên ngoài, thông thường không phát hiện được biểu hiện gì bất thường. Ở giai đoạn muộn của bệnh có thể xuất hiện đục thể thủy tinh.

Nguyên nhân

– Do cung cấp giảm: Thiếu vitamin A kéo dài trong chế độ ăn thường gặp ở trẻ kiêng khem quá mức: ăn ít rau và hoa quả, không ăn dầu, mỡ.

– Do rối loạn quá trình hấp thu:

+ Do rối loạn quá trình hấp thu vitamin A ở ruột: ỉa chảy kéo dài, lỵ, tắc mật.

+ Do suy gan: Vitamin A tan trong mỡ, gan tiết ra mật điều hòa chuyển hóa mỡ giúp chuyển hóa vitamin A. Hơn nữa gan có vai trò tổng hợp vitamin A.

– Do tăng nhu cầu vitamin A: trẻ càng nhỏ càng dễ bị thiếu vitamin A vì nhu cầu cao gấp 5 – 6 lần người lớn. Trẻ bị sởi, thủy đậu, viêm phế quản, lao, nhiễm trùng tiết niệu… thì nhu cầu vitamin A tăng trong thời gian bị bệnh mà thức ăn không đủ cung cấp.

4. Đục thủy tinh thể

Đục thủy tinh thể là tình trạng thể thủy tinh – ống kính trong suốt của mắt bị mờ, giống như một tấm kính bám đầy bụi hoặc phủ sương mù. Tuy nhiên dưới sự tác động của nhiều yếu tố đã làm cho các protein cấu tạo nên thủy tinh thể tụ lại thành từng đám, làm cản trở đường truyền của tia sáng lên võng mạc, từ đó gây suy giảm thị lực, thậm chí có thể dẫn đến mù lòa.

Nguyên nhân

Stress oxy hóa là nguyên nhân chính gây ra tình trạng viêm mạn tính và làm hư hại mạch máu nuôi dưỡng mắt khiến cho các protein bị co cụm lại, tạo thành những đám mây che phủ tầm nhìn của mắt. Quá trình này sẽ được thúc đẩy sau độ tuổi 40 với sự kết hợp của nhiều yếu tố nguy cơ sau đây:

– Môi trường sống ô nhiễm nhiều tia tử ngoại, khói bụi, vi khuẩn…

– Mắc các bệnh về mắt tái đi tái lại nhiều lần: viêm giác mạc, viêm kết mạc, chấn thương mắt, khô mắt…

– Người mắc các bệnh mạn tính như: tiểu đường, tăng huyết áp, béo phì, bệnh về mắt…

– Dùng quá nhiều chất kích thích như: bia rượu, thuốc lá…

– Tiếp xúc nhiều với các xạ ion hóa được sử dụng trong X – quang và xạ trị ung thư.

– Trong gia đình có người mắc bệnh đục thủy tinh thể

Triệu chứng

Đục thủy tinh thể thường tiến triển chậm dần, không gây đau đớn, kết quả là người bệnh sẽ không nhận thấy bất kỳ dấu hiệu hoặc những thay đổi nào trong tầm nhìn ở giai đoạn đầu. Khi đục thủy tinh thể tiến triển, bạn có thể thấy xuất hiện các dấu hiệu như:

– Mắt nhìn mờ, khó nhìn, nhanh mỏi mắt khi tập trung xem tivi hoặc đọc sách báo.

– Tăng nhạy cảm với ánh sáng, lóe sáng, quáng gà, nơi râm mát nhìn rõ hơn ngoài nắng.

– Nhìn thấy nhòe, cảm giác có “hào quang” xung quanh, màn sương che phủ trước mắt

– Nhìn một vật thành hai (còn gọi song thị) hoặc ba hình ảnh khác

– Hiện tượng ruồi bay, chấm đen, đốm đen xuất hiện trước mắt.

Một số trường hợp, người bệnh sẽ bị đục thủy tinh thể lệch, nghĩa là bệnh phát triển trước ở một mắt, trong khi mắt còn lại tầm nhìn vẫn bình thường. Theo thời gian, bệnh có xu hướng tiến triển sang mắt thứ 2, gây ra các triệu chứng nhìn mờ tương tự.

5. Cườm nước

Cườm nước là một nhóm bệnh có đặc tính phá hỏng dây thần kinh thị giác dẫn đến mất thị lực không thể phục hồi. Cườm nước thì được biết như là “Kẻ trộm thị lực âm thầm” bởi vì việc mất thị lực ban đầu chủ yếu chu vi bên ngoài và dễ dàng bị bỏ qua không chú ý.

Triệu chứng

  • Cườm nước góc mở

– Bệnh không có dấu hiệu và tiến triển chậm. Sự gia tăng áp lực nội nhãn chậm và không đau.

  • Cườm nước góc đóng

– Là dạng cấp tính có đặc đính bởi sự tăng bất thường của áp lực nội nhãn. Bệnh này có thể làm cho mắt rất đau, đỏ, thị lực mờ và xuất hiện những vòng tròn sáng quanh các bóng đèn. Theo sau có thể gây nhức đầu, buồn nôn ói.

  • Cườm nước bẩm sinh

– Loại bệnh cườm nước này hiếm và xuất hiện lúc sinh. Sự mở rộng của mắt trẻ sơ sinh, mờ đục giác mạc, chảy nước mắt và sự nhảy cảm ánh sáng khộng bình thường là các triệu chứng cảnh báo cần một cuộc kiểm tra mắt.

  • Cườm nước thứ phát

– Cườm nước thứ phát có thể gây ra bởi các tình trạng như sưng mắt, các khối u, phẫu thuật mắt các lần trước, các tổn thương hay cườm khô (cataracts) đang tiến triển hay việc sử dụng các thuốc steroid trên mắt.

– Cườm nước có thể ảnh hưởng đến nhiều thành viên trong cùng một gia đình. Do vậy, các thành viên trong gia đình và thân thuộc của bệnh nhân mắc bệnh cườm nước nên được kiểm tra với bác sĩ chuyên khoa mắt.

MUA SẢN PHẨM TRỊ BỆNH NGAY !!!

(Nếu gặp phải một trong các biểu hiện trên)

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *